5h15pm 23032005

 

Toi dang ngoi nghe nhac, cac loai nhac tong hop, va theo cam nhan cua chinh minh toi thay khong hay lam. Hom nay toi chua lam duoc gi ca, mot ngay da troi qua hon nua roi. Da may hom roi toi khong viet thu va goi dien cho em. Cuoc song hien tai cua toi bay gio cu thuan dong troi, tuy duyen ma song thoi. Khong biet la do anh huong cua kinh sach hay la do toi luoi qua, luoi thi chac chan roi. Dao nay toi cam thay tu nhien co cam giac bang quan truoc cuoc song. Nhung tiu chung lai ket luan mot cau la rat luoi, rat luoi va rat luoi.

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… lo lung troi tren mat dat. Ma tieu tien nhu lu lut. Tai that day.! Sao ma chua xot thay.aaaaaaa!!

Tinh buon nhu may khoi xot xa

va em  ra di mai mai khong quay ve

toi thi chang bao gio di tim

moi tinh don phuong khong loi thoat

hon anh cho vo

vuot bao giong to da cuon troi

chieu nay om co don minh anh

anh van nho em, em biet chang

du em khong bao gio tra loi anh

phai chang chinh vi em khong dap tra  ma moi tinh tro nen da diet

biet dau neu em dap tra thi tinh doi ta lai khong dep den the

 

HUONG XUAN

 

Chot nhu bung tinh giac

choi chop mat nhin quanh

troi cao trong xanh qua

O kia ! Xuan da ve

 

Nang len qua ke la

nhay nhot tren loc xanh

gio nhe xua hoi lanh

O kia ! Xuan da ve

 

Phai chang dat no hoa

sao ngat huong dong noi

huong co huong lua moi

O kia ! Xuan da ve!

Tung nu hoa chop no

toa mau vao khong gian

thi tham hoa khe noi

O kia ! Xuan da ve!

 

Bong ai xa xa do

ngap ngung giua muon noi

hay la em da biet

khi xuan ngap dat troi

 

toi ngoi day suy nghi mien man ngay nay qua ngay khac

cong danh su nghiep hanh phuc kho dau tat ca moi su tren doi

than la cat bui doi la phu hoa lam sao toi dam uoc

choi voi tren doi canh be bong cua su ngo nhan ve ban than toi

luot tren duong pho cung lu ban ngan ngo nhu bay tre

ngo ngac xin me tien an moi khi cuoi thang lai ve

 

xa ho viet nam ngay nay khong co gi doi may

van tung ay con nguoi voi truyen thong va thoi quen co huu

bon chen kiet xi lo dit nhu nhung thang an xin ban tien nhat

doi khi nghia hiep khang khai khoanh tay dung xem ke khac lam tro tren duong pho roi nhe rang cuoi

 

say

 

 

Đêm xuân môt trận nô cười

Dưới đèn chẳng biết là người hay hoa

Khi vui quên cả cái già,

Khi say chẳng dốc giang hà cũng say

Kim tịch thị hà tịch?

Mảnh gương nga đã tếch lối non đoài

Đó kìa ai ba bốn năm người

Người đâu tá còn chơi trong mộng thế?

Nhãn ngoại trần ai không thất thế,

Hung trung khối lũy thuộc tiền sinh

Kiếp say sưa đã chấm sổ thiên đình

Càng đắm sắc mê thinh càng mải miết.

Say lắm vẻ : say mệt, say mê, say nhừ, say tít,

trong làng say, ai biết nhất ai say?

Mảnh hình hài quen giả trá xưa nay,

chúng sinh tướng, lúc này coi mới hiện

Thôi xếp cả nguyệt hoa hoa nguyệt,

Cảnh bồng lai trải biết gọi làm duyên.

Tửu trung ưng thị thần tiên.

 

 

&&&&&&

 

say sưa nghĩ cũng hư đời

hư thời hư vậy, say thời cứ say

đất say đất cũng lăn quay

trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười?

 

say chẳng biết phen này là mấy

nhìn non xanh chẳng thấy, lại là say

Quái! sao say mãi thế này

say suốt cả đêm ngày như bấy tỉnh

Thê ngôn túy tửu chân vô ích

ngã dục tiêu sầu thả tự do

 

Việc trần ai ai tỉnh ai lo

say túy lúy nhỏ to đều bất kể

trời đất nhỉ, cái say là sướng thế

vợ can chồng, ai dễ đã chừa say

muốn say lại cứ mà say!

 

********

trời đất sinh ra rượu với thơ

không thơ không rượu sông như thừa

công danh hai chữ mùi men nhạt

sự nghiệp trăm năm nét mực mờ

Mạch nước sông Đà tim róc rách

ngàn mây non Tản mắt lơ mơ

còn thơ còn rượu còn xuân mãi

còn mãi xuân, còn rượu với thơ

 

 Tự trào

       Cờ cao, nước cản sạch,
       Võ miệng, hòa tứ phương.
       Tính tang, đàn sai phách,
       Văn vẻ… nước canh xuông.

       Ngày dăm lần vợ giận,
       Đêm vài bận thơ vương.
       Mẹ cha nghìn ngán ngẩm,
       Anh em triệu chán chường…

       Thơ dối mình đau ruột,
       Thư thực: báo chê xương!
       Cải nào chả là cải
       Thôi thì ngâm: cải… lương!

       Vạc liều dăm nhát tượng,
       Con cháu nhớ treo tường.
       

      Năm Hợi

       Theo sau thím Tuất dáng thong dong,
       ủn ỉn quanh năm chốn hậu phòng.
       Tấm cám đã cam tình nước lửa,
       Bèo rau đâu quản tiết thu đông.
       Ngại quyền tránh kẻ tìm khoanh cổ,
       Ngóng bạn mời ai nếm tấc lòng.
       Tranh Tết tươi cười xanh lộn đỏ,
       Gặp Xuân là hết kiếp long đong…
       

 

 

Đại sư Tô Mạn Thù tên thật là Tô Huyền Anh, biệt hiệu là Tô Tử Cốc, sinh năm 1883, mất năm 1918(xấp xỉ đồng thời với Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Apollinaire, lênh đênh giữa hai thế kỷ 19 và 20).

          Thân phụ ông  vốn là người Trung Hoa, tỉnh Quảng Đông, vì cuộc sinh nhai mà lưu lạc sang Nhật Bản, cưới một thiếu nữ Nhật, sinh hạ Tô Huyền Anh.

          Tô Huyền Anh chưa được mấy tuổi, thì thân phụ chàng đưa gia quyến về lại Trung Hoa.

          Chẳng bao lâu thân phụ chàng lìa đời. Thân mẫu đành quay về Nhật Bản, gửi đứa con ở lại Trung Hoa, nhờ thân thích bên nội nuôi dưỡng.

          Đứa bé bị họ hàng quê cha ghét bỏ vì nó mang trong mình một phần máu mẹ Nhật Bản.

          Đứa bé cô đơn quá, bèn cạo đầu quy y cửa Phật, vào chùa Lôi Phong tại Quảng Châu.

          Phương trương Tuệ Long, nhận thấy thằng bé thông minh xuất sắc, mới dốc lòng dạy dỗ. Sau mấy năm dùi mài cần mẫn, chú bé đã thông thạo văn học tư tưởng Ấn Độ, Trung Hoa, và dăm bảy ngôn ngữ Tây phương..

          Sau khi Phương trượng viên tịch, Tô Mạn Thù cảm thấy bơ vơ, bèn trút giũ áo tu, ra sống ngoài cõi tục. Tâm trạng tình cảm từ đó quả thực là éo le: tu thì tu không trót,mà chen lấn nổi chìm.

          Chàng thanh niên ấy dấn gót du hành ở nhiều tỉnh Trung Hoa, cư lưu nhiều ngày nhất là ở Thượng Hải. Và cũng từng du lịch qua Ấn Độ, Âu Châu, Mỹ Châu. Cũng từng nhiều phen qua Nhật Bản viếng thăm thân mẫu.

          Chính tại Nhật Bản, Tô Mạn Thù gặp Tô Dật Tiên ( Tôn Trung Sơn ) và nhiều đồng chí của Tô Dật Diên sang Nhật Bản lánh nạn. Những anh hùng cách mạng kia chơi thân thiết với Tô Mạn Thù. Nhưng họ Tô vốn là nhà sư thi sĩ, chẳng thể nào nhập cuộc thật sự với các lãnh tụ chánh trị chịu chơi gay cấn kia.

          Cái anh chàng thanh niên "lòng lạc loài ngay từ thủa sơ sinh" kia từ đó càng lang thang trầm luân khắp châu quận, trường giang đại hải. Tiếng gọi sơ đầu của Như Lai không đủ cứu vớt chàng, dìu dắt chàng trở lại cõi tịch mịch thanh tu. Càng ngày chàng càng đâm ra trầm tuý, nửa trong hồ rượu nửa trong biển tình. Chàng đúng là một loại Nerval Baudelaire Dylan Thomas Verlaine Aphollinaire. Nếu chàng mù được hai mắt như Homere, ắt chàng đã khám phá ra một cõi sống dị thường trong u tối. Nhưng cái rủi ro lại là ở chỗ: chàng không mù. Cũng không cận thị. Đó là điều tai hại. Hiểm hoạ hoành sinh.

          Kể từ mười mấy tuổi đầu, chàng đã sống trọn cái thảm kịch trần gian, sinh mệnh chàng ngược xuôi lảo đảo, mười sáu tuổi đầu, chàng đã thể hội hết nỗi đoạn trường thế sự mà Nguyễn Du viết trong lúc đầu bạc bình sinh, chàng đã nhìn quá sáng suốt mọi thảm kịch bể dâu, mà chẳng đủ khả năng thoát tục, cũng không đủ sức sống xô bồ bạt mạng trắng trợn tới cùng. Thì đó là hiểm hoạ. Thi văn chàng từ đó mang một tố chất đìu hiu bất khả tư nghị ở tại cái "ngã ba" siêu lệch chênh vênh gay cấn: "dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng. Chiêm bao kỳ mộng dường gần. Sịch mành sực tỉnh lại dần dần xa. Há rằng ngẫu nghĩ mà ra. Đoạn hồng linh nhạn mù sa thế nào.."

          Đọc Đoạn Hồng Linh Nhạn của Đại sư Tô Mạn Thù, từ đó, chúng ta chứng kiến mọi tan vỡ nào đó trong xã hội Đông Phương giữa những xung đột, kỳ thị, những mộng và tình và tiền oan túc trái..

          ( Tiện đây, người dịch xin đưa ý kiến riêng là : những sách tiểu thuyết tôi được đọc trên vài mươi năm nay, không có cuốn nào gây chấn động cho tôi nhiều như cuốn sách này của Tô Mạn Thù - trừ cuốn truyện của Nguyễn Du (cố nhiên) và cuốn Sylvie của Nerval và có lẽ Fountain Sparkenbroke của Morgan - kể về mọi phương diện, nội dung văn thể, bố cục..)

          Tô Mạn Thù vốn mê thơ Lord Byron (thi hào lãng mạn Anh quốc). Nhưng Mạn Thù không thể sống trọn cái nghiệp Byron, ấy có vì từ thủa sơ sinh, chàng đã quá lạc loài rũ rượi, rồi chàng lại bị cái tiếng gọi âm thầm của Như Lai chi phối, khiến chàng suốt kiếp luẩn quẩn, tìm không ra lối bước, đường tiến, đường lui. Hai dòng máu ở trong mình, hai thời đại của lịch sử, xô con người vào một cõi cô độc dị thường - đó là chỗ cốt yếu trong cuốn truyện của Tô Tử Cốc. Cuốn truyện hẳn nhiên không tất nhiên phải là tiểu sử, nhưng nó phản ánh cuộc sống nội tâm của tác giả và của một lớp người trong buổi giao thời riêng biệt.

 

Nhà sư vướng lụy

Hay là truyện Con Hồng Nhan luu ly

 

Người đâu tá? Quê nhà chưa tỏ

tuổi bao nhiêu? Tên họ là gì?

đã sinh cùng nước cùng thì

cùng ta không biệt mà ly bao giờ..

Chương một

          Tại Bách Việt, về phìa Nam bờ biển, có dãy Kim Nhân Sơn nguy nga dựng sững. Những lúc trời quang mây tạnh, ta có thể nhận thấy phía bên dưới sườn núi xanh um (tại chân núi) ẩn ẩn hiện hiện một mái ngói hồng lóng lánh, lập loè như lớp vảy con kình ngư. Đó là ngôi chùa Hải Vân, vẫn còn nguyên như thủa xưa, cái ngày nhà Tống sụp đổ, Lục Tú Phù cõng vị ấu chúa chạy tị nạn, tới bước đường cùng, tiên sinh đã cùng ấu chúa tự sát tuẫn quốc tại Nhai Sơn, để trọn đạo hiếu trung, hơn là lọt vào tay cường địch hung bạo. Một số di thần triều Tống cũng đã tới đó ẩn thân động tích, cạo đầu đi tu. Ngày đêm hướng lên trời xanh cầu nguyện, mong mỏi Thương hiệu phò trì vong linh của Đại Hành Hoàng Đế.

          Cho tới ngày nay, nhìn sơn lính ở xa xa cuối chân trời, vân khí sầm uất, bàng bạc chiều chiều như còn gợi mãi vang bóng triều đại xa xưa. Và thỉng thoảng tiếng sóng vỗ bi thống còn khiến lữ khách ngậm ngùi, cúi đầu lặng lẽ, không dám gợi lại những bóng ma não nùng của quá khứ.

          Ngày nay, tôi ghi chép lại những "bảo võng kim tàng" của ngôi chùa cổ. Thảy thảy còn là những cựu vật chứng giám một thời. Đây một mặt hồ tĩnh lặng, kia một dòng suối quanh co.. dưới bóng tùng bách canh um. Mấy chục nhà sư trụ trì tại đó, còn giữ gìn những phong thái nghi lễ ngày xưa. Năm về, năm lại , qua mỗi một mùa đông truyền giới, y bát vô thanh, khách viễn phương về thụ giới mỗi mùa trong cảnh tịch mịch. Khách về thưa thớt lắm, ấy bởi vì đường núi hiểm trở, đèo dốc khi khu.

          Một buổi mai, tiếng chuông chùa từ từ ngân, tôi tựa lưng bên goá chùa tĩnh mịch, nhìn những đàn hải âu bay lượn thấp thoáng ở chân trời. Thời tiết lạnh lẽo giữa mùa đông. Ngọn gió biển như bức bách con người ta, tự bên ngoài ngàn dặm (hải phong bức nhân ư thiên ý chi ngoại). Độc giả hiểu chô: đó là ngày tam giới hoàn tất của tôi. Tính ra, cuộc cư lưu của tôi tại chùa, hốt nhiên đã ba tuần viên mãn, hôm nay ngày tôi có thể xuống núi trình diện với phương trượng. Sau đó, ngày ngày quét lá, đêm đêm đốt hương, độ quá lưu niên, có gì đâu mà ân hận!

          Đang giữa cơn tư lư như thế, bỗng nhiên nước mắt trào ra. Tôi tự nhủ "Ai cũng bảo ta là đứa bé không cha không mẹ? Có quả thật như vậy chăng? Ta là đứa bé không mẹ?

-         Không. Không thể như vậy được.

Kể từ ngày dưỡng phụ từ trần, tôi một thân một mình không còn họ hàng nhìn mặt. Nhưng mỗi lần gió lay đầu cây ngọn cỏ, hoặc mỗi phen mưa trút liên miên, hoăc trong cảnh cuồng phong bạo vũ, hoặc trong cảnh vạn vật im lìm, tôi dường như nghe thoang thoảng bên tai tiếng kêu gọi của từ mẫu. Nhưng âm thanh đó khởi từ đâu lại? Ấy là điều tôi không rõ. Nhưng lòng tôi vẫn hằng ôm ấp cái ý tưởng ấy.

Tôi lại thở dài tự nhủ "Mẹ sinh con ra đời, sao chẳng cho con được gặp mặt một lần? Mẹ có biết đứa con thân thế phiêu linh cùng cực thế nầy chăng?"

Lúc bấy giờ sóng biển rì rào từng đợt lấp lánh ngoài khơi, quang cảnh đẹp dị thường. Tôi khoác áo cà sa lên thân thể, cùng ba mươi sáu vị đồng giới, tay cầm nén hương, lũ lượt nối gót nhau bước đi. Lúc nên tới đại điện, bọn chúng tôi phân tán ra hai bên tả hữu, đứng im phăng phắc như ngôn. Các vị trưởng lão ở bốn phía núi non lân cận, cũng đã tề tựu đông đủ. Đốt hương tụng niệm xong, tứ bề im phăng phắc.

Một lát sau, vị sư cao đạo cất giọng từ bi khẩn tụng rằng:

" Cầu giới hành nhan

 Hướng thiên tam bái

 Dĩ báo phụ mẫu dưỡng dục chi ân"

Lúc bấy giờ, hai mắt tôi trào lệ như mưa, không làm sao ngưỡng lên được. Các vị đồng giới cũng tấm tức ngậm ngùi.

Buổi lễ hoàn tất, các vị trưởng lão lần lượt tới bên chúng tôi, mở lời khuyến miễn an ủi mà rằng:

"Thiện tai đại đức!

Tuệ căn thâm hậu,

Nguyên lực trang nghiêm

Thử khứ cẩn thị thân sư,

Dị nhựt Linh Sơn Hội thượng.

Niên hoa tương điếu".

(Đức lớn tốt thay!

Lành thay đức lớn!

Tuệ căn sâu dày,

Nguyên lực trang nghiêm

Lần này đi phụng bồi sư trưởng

Tới ngày sau tụ hội Linh Sơn

Sẽ cầm nhánh hoa

Nhìn nhau mỉm cười một nụ)

 

Tôi lặng nghe âm thanh tụng niệm ấy chan chứa lòng từ bi ai mẫn, tôi đành lễ thụ điệp (đón nhận Phật Kinh) gạt lệ mà bái từ các vị trưởng lão, rồi chậm rãi xuống núi.

Hai bên đường, cây cối trơ trụi xác xơ, lá cành rụng hết. Cảnh tượng thật là tiêu điều. Chỉ thấy vài ông tiều phu hiện ra rồi mất dạng. Ai có rõ rằng kẻ xa lánh bụi đời, quy y cửa Phật, vẫn còn mang những đau xót không lời!

 

Chương hai

Tôi từ giã Hải Vân Tự, và bây giờ cư lưu tại một căn nhà ở chốn hoang thôn tịch mịch. Ngoài việc chăm lo phụng thừa nhu cầu sư trưởng, hằng ngày tôi lãng phí thời gian trong những trận nhớ nhung xa vắng, nửa tỉnh nửa mê, thần hồn theo nước mắt mà tràn ra không ngớt. Sư trưởng của tôi, nhận thấy tôi còn nhỏ tuổi, rủ lòng thương xót; lựa lời phương tiện, tử ái khuyên lơn. Nhưng tôi không làm sao nguôi được. Tôi quả thật là đứa khổ sở nhất trần gian.

Một ngày nọ, tôi tuân mệnh sư trưởng, xuống thôn làng khất mễ (xin gạo), được hơn mười cân, lẽo đẽo mang đi dọc đường. Đang suy nghĩ tìm chỗ trọ ban đêm, chợt có kẻ trộm cướp từ xa tới, chộp cái túi vải đựng gạo và chạy mất. Tôi chỉ đành than dài một tiếng.

Lúc bấy giờ, trời đã nhá nhem tối. Tôi một mình vất vơ vất vưởng. Lại lạc lối thế nào ra tận bãi biển, và không tìm được đường về. Tôi bồi hồi quanh quẩn khá lâu, tới một cồn cát nọ, ngồi nghỉ chân giây lát. Sóng biển bỗng nổi dậy thật hãi hùng, nhìn bốn bề chỉ thấy âm u dằng dặc.

Đương giữa lúc hoang mang như thế, chợt thấy một đốm lửa li ti ở ngoài khơi lập lò như một hạt đậu. Biết rằng đó là ngòn đèn của một chiếc thuyền đánh cá, bèn cất tiếng gọi:

-         Xin ông chài ghé vào đây, cho tôi sang bờ bên kia với.

Sau tiếng gọi, thấy đốm lửa lớn ra dần dần, tôi biết ông chài cá đã đáp ứng, và đang tiến lại gần. Lòng tôi cũng cảm thấy an ủi đặc biệt. Chẳng bao lâu, chiếc ghê đã cập bến. Ông chài cất tiếng hỏi:

-         Muốn đi tới đâu?

Tôi đáp:

-         Tôi chỉ là một nhà sư tại Ba La Thôn đi khất thực suốt ngày, lạc lối ra đây. Mong nhờ ông giúp tôi một phen vậy.

Ông chài đưa tay khoác lia lịa mà rằng:

-Úi chà! ăn nói gì như thế! Thật là bất thông! Ghe của người ta là cốt đi đánh cá kiếm lời, có đâu lại phí công phí của mà chở giùm những nhà sư nghèo đói!

          Nói xong, quày quả chèo ghe đi tuốt. Tôi chẳng còn biết nghĩ ra gì được nữa, phiền muộn ngồi khóc một mình. Chợt vẳng nghe một tiếng chó sủa ở xa xa. Tôi biết thế là quanh quất vùng này còn có thôn làng thang lan đâu đó. Bèn đứng dậy, men lối theo đường cỏ mọc mà đi. Dần dà thấy hiện ra ở tiền điện một ngôi cổ miếu. Tôi vội vã tiến lên. Giữa ngôi cổ miếu, có treo một chiếc đèn leo lét. Tôi bước vào. Luẩn quẩn một lúc, nằm xuống bên bậc đá, khoanh thân lại nghỉ. Chợt nghe tiếng chân đi bên ngoài cửa miếu. Tôi sửa lại áo quần ngay ngắn, đứng lên, thì thấy một đứa bé lăng xăng vội vã bước vào.

          Tôi hỏi:

-         Em bé đi đâu đó?

Chú bé hai tay cầm mấy cái giỏ tre đưa ra mà rằng:

-         Công việc của cháu nhọc nhằn lắm. Đêm đã khuya thế này, cháu vẫn

phải len lỏi

         

....................

 

Chương mười hai

Một bầy nhạn thấp thoáng bay vút ngang trời. Tiếng ve bốn bề văng vẳng. Tôi cúi đầu đi vòng quanh vườn tược nhà dì, vòng quanh bờ đập nước, vòng quanh những doanh mâu lang lạc, những rạng rỡ cột trụ vân thạch, và ghé tới bên cái bờ ao lãnh thiên liên ỷ li ti vang bóng mùa thu trước năm nào. Mùa xuân năm nay? Nhưng mùa xuân nào như thế năm nay? Lòng mới nở giữa tay đời ấm áp? Giường bên cửa sổ? Cây đưa mát?

 

          Chân bước trông vời áo tiểu thơ?

          Một hôm trận gió xa vời lại

          Năm ngoái năm nảy năm nữa ru

I strolled about my aunt's grounds - her pavilions, garden, and the path skirting the fishpond.. Across the heavens flashed the forms of swans. Every nook resounded with the chirping of the cicada.. Wide spaces and limpid streams greeted my eyes. I silently recalled that only this morning and me home on the following morning...

Chân cứ bước, lòng cứ miên man trầm tư. Mắt cứ mơ hồ nhìn sóng lăn tăn trong từng luồng thinh không dĩ thái, như phi thuyền bộc bố trong mát loà xoà trước nhãn quan. Tôi lặng lẽ nhớ lại rằng sáng nay mẹ tôi có nói cho biết sáng mai mẹ sẽ dắt hai anh em tôi về trở lại nhà. Thì như thế, vùng đất đai bạch vận hồng thụ, làm sao chẳng có chăng niềm quyến luyến. Lòng tôi như thế nào như thế. Tôi quyến luyến cái chi? How light her step, how slim her body was! Who would ever think that she had seen eighteen years go by?

Xiết bao nhẹ nhàng gót chân nàng bước! Bao xiết mãi cốt cách là tấm thân thể nàng mảnh khảnh đầy đăn nở nang gầy gầy sậu cốt! Xiết bao máu me hồng thắm tịch mịch ra đời ! Ai dám bảo rằng nàng đã luống nhìn mười tám tuổi xuân trôi qua ở bên mình và đã mất dạng ở tiền diện hoặc là ở sau lưng? Mất đi đâu? Giữa phong cảnh phiên nhiên tịch mịch. Ồ Tĩnh Tử cô nương! Tại hạ nói sao về những trận chiêm bao vốn cứ xâm lăng về gùn ghê chia hai bờ cõi. Ôi Tuyết Mai ngày ấy, ồ Tĩnh Tử hôm nay! Tôi mơ hồ nhớ nhung những chân trời mù sương nào xa xôi quá. Sao cứ về giữa lầm than xứ sở mà náo động mãi như thế ngày đêm? Những cụm sơn lê, những ngành du thụ. Những sim lục. Những Đường Quỳ. Chùm thạch thảo nào cô nương đã hái. Đoá tường vi nào tại hạ đã bảo "em nhớ cho". Mùa thu đã chết rồi. Hay là màu Xuân Hồi Sinh đang trỗi dậy. Chân nào bước lên đồi. Gót nào đi xuống biển. Hình hài nào từ huyễn ngạn lẽo đẽo gạ gẫm hoài với mộng mỵ chiêm bao. Về châu quận quê hương nào của tôi như thế?