|
|
Cái
Cười Của Thánh Nhân
|
Nguyễn Duy Cần
|
Phần Một
Trào Lộng U Mặc Là Gì?
Một nhà văn tây
phương có viết:
"Tình yêu là một vị thần
bất tử,
U mặc là một lợi khí,
Cười là một sự bổ ích.
Không có ba cái đo,ù không đủ nói đến văn hóa toàn diện" Cười
đùa quả là một sự bổ ích, u mặc
quả là một lợi khí căng thẳng, ngột ngạt, cái khô khan của những chủ thuyết
một chiều, cái máy móc của tâm hồn do văn minh cơ khí điều khiển uốn nắn... đang biến loài người thành
những bộ máy vô hồn, không dám nói những gì mình nghĩ, không dám làm những gì
mình muốn... mà chỉ thở bằng cái mũi của kẻ khác, nhìn bằng cặp mắt của kẻ
khác, nghe bằng lỗ tai của kẻ khác... theo nghệ thuật tuyên truyền siêu đẳng của văn minh cơ khí ngày
nay! Một con người hoàn toàn là sản phẩm của xã hội, chưa biết sống và dám
sống theo ý mình... đó là mục tiêu chính mà u mặc
nhắm vào.
Chính u mặc đã khiến cho bà Roland, khi lên
đoạn đầu đài đã "cười to" với câu
nói bất hủ này: "Ôi Tự Do, người ta đã nhân danh mi mà làm không
biết bao nhiêu tội ác!"
Lâm Ngữ Đường, mà trí thức Trung Hoa
tặng cho danh hiệu "u mặc đại sư" có nói: "U mặc
là một phần rất quan trọng của nhân sinh, cho nên khi mà nền văn hóa của một
quốc gia đã đến một trình độ khá cao rồi ắt phải có một
nền văn hóa u mặc xuất hiện".
U mặc xuất hiện là để đặt lại mọi nghi vấn về các giá
trị thông thường của xã hội mà đời nào cũng tự do là "văn
minh nhất" lịch sử! Nhà văn Georges Duhamel khuyên người Tây Phương,
trong hoàn cảnh hiện thời, cần phải đặt lại tất cả mọi giá trị của
văn minh, vì chưa có xã hội nào trong văn minh lịch sử mà người trong thiên
hạ điêu linh thống khổ bằng! Ở xã hội
Trung Hoa ngày xưa, thời Xuân Thu Chiến Quốc, một thời đại điêu linh nhất đã phải sinh ra một ông Lão,
một ông Trang, để đặt lại tất cả mọi giá trị của
xã hội đương thời.
Nhà văn họ Lâm cho rằng: "Tinh thần ở u
mặc Trung Hoa ngày xưa cũng đã thấy bàng bạc ngay trong kho
tàng ca dao Trung Quốc. Trong Kinh Thi, Thiên Đường Phong, một tác giả vô
danh, vì thấy rõ cái "trống không" của cuộc đời hết sức vô thường của con
người, đã trào lộng hát
lên:
Ngài có xe ngựa, sao không
cưỡi, không tế...
Đợi lúc chết rồi, kẻ khác hưởng đi mất thôi!
Đó là một phần nào đã bộc lộ cái trạng thái u mặc.
Nhưng phải đợi đến nhân vật chủ não là Trang
Châu xuất hiện, mới có được một thứ văn chương nghị
luận ngang dọc... mở ra cho người đời một thứ tư tưởng và văn học
u mặc hẳn hòi. Trang Tử là thủy tổ của văn học Trung Hoa.
Các tung hành gia như Quỷ Cốc Tử, Thuần Vu
Khôn... điều là những nhà hùng biện
trào lộng thật, nhưng vẫn chưa kịp phong thái u mặc thượng thừa của Trang
Châu...
Nền văn Trung Hoa với "bách gia chư
tử" đã phát triển rất mạnh. Người
ta nhận thất rõ ràng có hai luồng tư tưởng khác nhau xuất hiện: Phái cẩn
nguyện (Lấy lễ, nhạc, trang nghiêm, cung kính và nghị luận tuyệt đối một chiều làm chủ yếu), và
phái siêu thoát (lấy tự do phóng túng, trào lộng u mặc, nghị luận dọc ngang
làm yếu chỉ). Trong khi phái cẩn nguyện cúc cung tận tụy phó vua giúp nước,
chăm chăm lấy sự "sát thân thành nhân", "lâm nguy bất cụ"
làm lẽ sống, nhưng nhóm đồ đệ của Mặc Địch hay nhóm cân đai áo mão đồ đệ của Khổng Khâu, thì phái
siêu thoát lại cười vang... cho bọn khép nép chầu chực ở sân rồng còn kém xa
"loài heo tế", hoặc già như nhóm đồ đệ của Dương Chu, nhổ một sợi
lông chân mà đổi lấy thiên hạ cũng không
thèm, hoặc coi nhân nghĩa như giày dép rách, xem lễ là đầu mối của loạn ly trộm
cướp...
Phái Nho gia có thuyết tôn quân nên bị nhà cầm
quyền khai thác lợi dụng, nhân đó mà có bọn hủ nho xuất hiện, được nhóm vua chúa nâng đỡ đủ mọi phương tiện.
Nhưng, dù bị đàn hạc, bị bức bách đủ mọi hình thức, văn học u mặc
chẳng nhưng không bị tiêu diệt lại còn càng ngày càng mạnh. Đúng như lời Lão
Tử: "Tương dục phế chi, tất cố hưng chi". Cũng như văn trào lộng
của nước Pháp ở thế kỷ mười tám sở dĩ được phát đạt một thời với những ngòi bút
trào lộng bất hủ của Voltaire và Rousseau, phải chăng là "nhờ" nơi
cái nhà ngục Bastille mà được vừa tế nhị, vừa rực rỡ!
"Họa chung hữu phúc" là vậy!
Nguồn tư tưởng phóng khoáng của Đạo gia quá to
rộng như đại dương, không sao đụng được trong những ao tù nhỏ hẹp,
nó vượt khỏi thời gian không gian, ôm chầm vũ trụ, siêu thoát Âm Dương...
không ai có thể lấy ngao mà lường biển. Cho nên tư tưởng Trung cổ về sau, dù đại thế của Nho gia được đề cao và chiếm địa vị độc tôn, cũng không làm sao
ngăn trở nó được. Văn khí của u mặc hồn
nhiên mạnh mẽ như giông to gió lớn, trước nó không một chướng ngại vật nào có
thể đứng vững.
Huống chi người Trung Hoa trí thức nào cũng có
hai tâm hồn: Bên ngoài là một ông Khổng, bên trong là một ông Lão. Nho Lão
cùng ở trong một người mà không bao giờ nghịch nhau. Hạng trung lưu, không
một người Đông phương nào, cả Trung Hoa, Nhật Bản hay Việt Nam mà đọc lên bài "Quy khứ lai
từ" của Đào Uyên Minh lại không biết thích thú, nhất là hạng người say
mê trong con đường nhập thế. Ngày có làm,
thì đêm phải có nghĩ, đó là định luật của thiên nhiên:
"Nhật hạp nhật tịch vị chi biến". Văn học u mặc là "mở",
văn học cẩn nguyện là " đóng", nghĩa là khép kính
trong vòng tiểu ngã, trong các giáo điều luân lý tôn giáo, nguồn
gốc sinh ra không biết bao nhiêu việc nhỏ nhen ích kỷ và giả dối.
Văn học Trung Hoa, ngoài thứ văn học lăng miếu
trong triều đình không kể, còn điều là thứ văn học rất đắc thế cho tư tưởng u mặc.
Văn học trong miếu, thực ra, chưa đáng kể là văn học, vì nền văn
học có linh tính chân thật phải đi sâu vào tâm tư con người để khám phá và cởi mở những
khác vọng thầm kính của nó mà ước lệ giả tạo của xã hội cấm đoán. Để hòa đồng với thiên nhiên phải tránh
xa lối văn nhân tạo. Đó là đặc điểm đầu tiên của u mặc.
Ở Trung Hoa, nếu chỉ có nền văn học cẩn nguyện
của Nho gia đạo thống mà thiếu nền văn học
u mặc của Đạo gia, không biết văn học Trung Hoa sẽ cằn cõi khô khan đến bậc nào, tâm linh người
Trung Hoa sẽ sầu khổ héo hắt đến chừng nào!
Nhận xét trên đây của nhà văn họ Lâm rất đúng, không riêng gì cho Trung
Hoa mà cho tất cả mọi nền văn học trên khắp địa cầu. Nhà văn Chamfort có
viết: "Triết lý hay nhất là hỗn hợp được sự vui đời mà trào lộng chua cay với
sự khinh đời mà độ lượng khoan hòa"
1 2
|
Cái
Cười Của Thánh Nhân
|
Nguyên Tác: Nguyễn Duy
Cần
|
U mặc là ngọn thanh phong trong những buổi trưa hè oi ả... của cuộc đời!
Khổng Tử đi hỏi lễ Lão Tử. Lão Tử nói: "Lời
nói của ông là lời nói của những kẻ nay đã xương tàn cốt rụi. Vả, người quân tử đắc thời thì đi xe, không đắc thời thì tay vịn nón lá mà đi chân. Ta nghe rằng kẻ buôn giỏi khéo
giữ của quý như không có gì, người quân tử đức thạnh, dung mạo như người ngu. Họ
khác với cái kiêu khí và đa dục của ông. Thái sắc ấy và dâm chí
ấy không ích lợi gì cho ông cả! Ta sở dĩ báo cho ông biết có bấy nhiêu
thôi".
Đoạn văn trên đây của Tư Mã Thiên nói về Lão Tử và
Khổng Tử, có cái ý vị trào lộng mà chua cay của người thời chiến quốc đối với hạng người thích làm thầy đời, chưa thể là văn u mặc thượng thừa.
Phái siêu thoát, nếu lại nhập vào dòng yếm thế và phẫn thế, sẽ mất lần đi cái tinh thần chân chính của u mặc.
Căn cứ vào tiêu chuẩn này, ta có thể nhận thấy rằng sách của Trang Tử gồm cả
thảy ba mươi ba thiên, nhưng chỉ có nội thiên là toàn bích, phản ảnh đúng tinh thần u mặc thượng thừa của
Trang Châu mà thôi. Các thiên chương khác, cũng có một số mà giọng trào lộng
không kém Trang Châu, nhưng lại có giọng chua cay phẫn the (có thể do các tay
Trang học, đạo theo lối văn u mặc của Trang), nên
kém xa thần thái siêu thoát của Trang, như ở Thiên đạo chích chẳng hạn.
Khổng Tử lắm lúc cũng tỏ ra tinh thần u mặc:
Sau một thời gian bôn ba thuyết khách, cốt đem đạo học truyền bá cho hàng đế vương mà không thấy ai biết dùng đạo mình, bèn than: "Dư dục
vô ngôn. Thiên hà ngôn tai!". Rồi khi bị dồn vào thế kẹt, lại
trào lộng tự bảo "tri kỳ bất khả nhi vi chi!!"
Bởi vậy, điều mà ta thích ở Khổng Tử, đâu phải lúc ông thiếu thời, sớm được thành công, đầy hăng say và tiểu khí ra tay giết
Thiếu Chính Mão, mà chính ở vào lúc liên miên thất bại nhưng không mất vẻ
trào lộng, thời mà ông không muốn chỉ "làm trái bầu treo lủng lẳng mà
không ăn được!!". Vậy mà bọn
hủ nho chỉ biết thích thú vỗ tay hoan nghênh cái ông Khổng Tử giết Thiếu
Chính Mão, mà không biết thích cái ông Khổng Tử, vời cái cười trào lộng, khen
cái chí của Tăng Điểm " Tắm sông Nghi, hứng gió ở nền Vũ Vu, trên đường về, cùng nhau nắm tay ca
hát!" Nghĩa là họ chỉ biết thích cái ông Khổng bên ngoài của ông
Khổng, mà không biết thích cái ông Lão ở bên trong của ông Khổng, cái ông
Khổng "tòng ngô sở hiếu"!
Về sau Mạnh Tử cũng còn giữ được cái tính chất khôi hài khi ông " vượt
bức tường đông để ôm chầm người con gái", điều mà bọn sĩ phu về sau không bao giờ
dám hở môi.
Đến sau này, bọn hủ nho lại càng ngày lại càng
kém, không đủ để bàn đến. Ngay như Hàn Phi Tử, tuy có tính
cách trào lộng, nhưng lại thiếu sự nhẹ nhàng tự nhiên, nên cũng không sao
theo kịp u mặc. Đến như bọn Đông Phương Sóc, Mai Cao đều chỉ là hạng người hoạt kê trào
phúng, chưa có đủ bản sắc u mặc thượng thừa.
Mãi đến Vương Bật, Hà Án với tinh thần phóng
khoáng của lão Trang, lại thêm có nhóm Trúc Lâm thất hiền tiếp tục khởi
xướng, nên mới mở ra được cái phong thái thanh đàm, quét sạch được cái khí vị nặng nề móc meo của hủ
nho thời ấy.
Trong cái không khí tự do đó, tư tưởng đời Chu Tần được cơ hội khai phóng, biến thành một
phong trào hoạt đàm tự thích, như cây cỏ được cái nắng mùa hạ mà xum xuê, để rồi tiến sâu vào cảnh vật mùa thu.
Kết quả là cuối đời Tấn, một nhà thơ trào lộng u mặc
thành thục Đào Tiềm xuất hiện. Theo nhà văn họ Lâm, thì "cái vẻ đạm bạc tự thích của Đào Tiềm không
giống cái vẻ cuồng phóng của Trang Châu, cũng không có cái bi phẫn của Khuất
Nguyên"
So sánh bài " Quy Khứ Lai Từ" của Đào
Tiềm với các bài "Bốc cư", "Ngư
phụ" của Khuất Nguyên, tuy điều là những bài văn cao quý như hoa
thơm cỏ lạ, nhưng văn họ Đào không có cái hồn âm kịch liệt và ai phẫn của
Khuất Nguyên.
Họ Đào, như họ Trang, đều chủ trương về với tự nhiên, nhưng đối với thế tục, Đào không có cái bén
nhọn như Trang. Đào không chịu " khom lưng, quỳ lụy vì năm đấu gạo" mà thương
xót cho mình quá ngu dại vì miếng ăn đem đổi nhân phẩm của mình, còn Trang sinh
thì lại cười vang cho bọn bon chen theo danh lợi không hơn gì bò lợn được dưỡng nuôi để mà xẻ thịt!
Nói thế, đâu phải chê Trang mà khen Đào, là vì,
sự thật, có nhiều thứ u mặc: U mặc trong thi ca tự thích thì Đào là thủy tổ,
mà u mặc trong văn nghị luận thì Trang là tối cao. Bản chất của thi ca là nhẹ
nhàng thanh nhã, cho nên Đào rất ôn hòa là cái lẽ nó phải vậy. Họ Lâm cho
rằng Trang Tử là thứ u mặc thuộc dương tính, còn Đào Tiềm là thứ u mặc thuộc
âm tính: Khí chất khác nhau mà thôi.
Người Trung Hoa chưa nhận thức rõ ràng ý nghĩa
sâu xa và vai trò quan trọng của u mặc nên cho rằng u mặc cũng đồng nghĩa với hoạt kê trào phúng, khiến
nên u mặc bị kẹt trong một phạm vi hoạt động co hẹp.
Sau Trang Tử, văn chương u mặc có tính khí
ngang tàng không thấy tiếp tục xuất hiện nữa. Là vì những tư tưởng phóng dật
ấy bị thế lực đạo thống của Nho gia và quyền uy của
vua chúa áp đảo. Trong khoảng hai ngàn năm người
viết văn nghị luận đều phải theo đòi thánh hiền còn kẻ sĩ cầm bút cũng
chỉ múa may trong vòng Khổng Miếu. Nếu có thứ văn nghị luận nào mới mẻ, kiến
giải có hơi siêu phàm thoát tục liền bị coi là phản lại đạo đức, biện ngôn hay ngụy thuyết. Thậm chí
bọn đại sĩ phu còn quy cho Hà Án, Vương Bật
về tội xúi giục thối lan tràn của Kiệt Trụ, làm cho nhân nghĩ bị chìm đắm, nho phong mờ mệt, lễ nhạc băng
hoại. Sở dĩ nước Trung Hoa điên đảo, họ cũng đều quy tội cho u mặc gây ra. Vương Lạc
thanh đàm, vậy mà bọn hủ nho cho đó là triệu chứng diệt vong của nước
tấn. Sự thanh đàm còn chẳng được chấp nhận, thì còn ai dám chủ
trương nói đến chuyện " tuyệt
thánh, khí chí", " tuyệt nhân, khí nghĩa!"
Các hủ nho có thể đem vứt bỏ văn học u mặc ra ngoài văn
chương lăng miếu, mộ bia, nhưng không thể vứt nó ra khỏi cuộc sống của con
người, vì u mặc là phần đặc biệt và quan trọng nhất của đời người. Dù là trong sinh hoạt của các
nhà đại nho, dù học là những người sáng tạo
ra văn học cần nguyện trang nghiêm đạo mạo bậc nào, trong những khi cùng
bạn hữu đàm đạo, há chẳng có những lúc cười đùa châm chọc nhau sao? Chính những phút
ấy là những giấy phút thần tiên, tâm hồn cởi mở và sống thật. Chỗ khác biệt
giữa văn học cẩn nguyện và văn học u mặc là văn cẩn nguyện thiếu cái
"ướt át" của u mặc mà thôi.
Trong nền văn học Việt Nam, mà thiếu văn
chương lãng mạn u mặc của ca trù, thử hỏi còn có cái gì là tự do sinh khí
nữa! Vậy mà bọn đạo đức giả nước ta không ngớt lên án là thứ
văn chương du hí và vong quốc! Người ta đã kém thành thật đối với mình.
|